Theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, việc đi bầu cử trước hết được quy định là một quyền của công dân, không phải nghĩa vụ – tức là bạn không vi phạm pháp luật nếu không đi bầu. Nhưng trong thực tế, vận hành và tuyên truyền, việc này thường được xem như một nghĩa vụ hành chính.
Về mặt pháp lý, bầu cử là một quyền của công dân.
Điều 27 của Hiến pháp quy định rõ: "Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân.”
Bên cạnh đó, Điều 2 của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cũng tái khẳng định công dân từ đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử.
Trên thực tế, đi bầu được tuyên truyền là một nghĩa vụ.
Các kênh truyền thông nhà nước và bản tin loa phát thanh tại các khu dân cư thường nhắc nhở người dân chuẩn bị thực hiện "quyền và nghĩa vụ" của mình. Hệ thống chính trị thường huy động mạnh mẽ để đạt kết quả số cử tri đi bầu và số phiếu bầu gần như tuyệt đối (thường đạt hơn 99%)
Đối với nhiều cử tri, bầu cử được nhìn nhận như một nghĩa vụ hành chính hơn là một quyền chính trị gắn với lợi ích và tiếng nói của họ – đặc biệt khi người họ bầu tại đơn vị bầu cử nơi họ sinh sống sẽ không nhất thiết tiếp tục làm việc tại đó khi có sự điều động của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Chẳng hạn như trường hợp Bí thư Thành ủy TP HCM Trần Lưu Quang. Ông Quang đắc cử đại biểu Quốc hội khóa 15 nhờ sự tín nhiệm của cử tri khu vực Quận 4, Quận 7, huyện Nhà Bè và huyện Cần Giờ, TP HCM.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, tới sát ngày bầu cử Quốc hội, ông được Đảng phân công làm Bí thư Thành ủy Hải Phòng, thời điểm mà danh sách ứng viên đã được chốt. Ông Quang tiếp tục vận động tranh cử tại các khu vực trên tại TP HCM, nơi cử tri biết rằng nếu sau khi được bầu và trúng cử, ông Quang sẽ chuyển công tác ra Hải Phòng.