Ông Lê Minh Hưng trước bài toán đánh đổi 'tăng trưởng cao và bền vững'

Thời gian đọc: 9 phút

Khi Thủ tướng Lê Minh Hưng tuyên thệ nhậm chức, không ít kỳ vọng được về một lãnh đạo Chính phủ "kỹ trị" - nhân vật được đào tạo về chính sách công, cũng như kiến thức và kinh nghiệm về kinh tế, tài chính.

Hình ảnh của tân thủ tướng trong những ngày đầu công chúng được thấy là trong bộ vest sang trọng, đưa ra hàng loạt chỉ thị về điều hành kinh tế, dường như khác xa với "tấm áo đẫm mồ hôi" của người tiền nhiệm Phạm Minh Chính.

Trước Quốc hội, tân Thủ tướng Lê Minh Hưng tuyên bố không đánh đổi tăng trưởng nóng bằng vĩ mô, tái khẳng định cam kết giúp nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng "cao" và "bền vững".

Sự khẳng định này lặp lại chủ trương mà ông Tô Lâm - Tổng Bí thư, Chủ tịch nước - hồi đầu tháng 3 nói rằng "không đánh đổi tăng trưởng bằng lạm phát, bong bóng tài sản, nợ công mất kiểm soát".

Ông Tô Lâm khẳng định kỷ nguyên của ông "không chấp nhận tăng trưởng thấp".

Mục tiêu tăng trưởng 10% trong năm 2026, và các năm tiếp theo đến hết nhiệm kỳ, vẫn không đổi, bất chấp những biến động địa chính trị và thương mại quốc tế.

Thành quả kinh tế được coi là sẽ mang lại tính chính danh cho sự cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, theo nhận định của Tiến sĩ Zachary Abuza từ trường National War College (Mỹ) với BBC News Tiếng Việt hồi năm 2025.

Khi ông Tô Lâm lên làm tổng bí thư vào tháng 8/2024, mục tiêu tăng trưởng năm 2025 của Việt Nam đã được điều chỉnh từ 6,5% lên trên 8%. Bất chấp cuộc chiến thuế quan Tổng thống Mỹ Donald Trump phát động, Việt Nam vẫn đạt mục tiêu đó.

Khi đề ra "kỷ nguyên vươn mình", ông Tô Lâm muốn một mức tăng trưởng cao và bền vững. Ý chí đó đã được đưa vào Nghị quyết Đại hội 14 vào cuối tháng 1, và hệ thống chính trị bắt buộc phải thực hiện.

Nhưng vào cuối tháng 2, Mỹ và Israel tấn công Iran, gây ra cuộc khủng hoảng dầu mỏ mà các nước châu Á, trong đó có Việt Nam - vốn phụ thuộc năng lượng nhập từ Vùng Vịnh - chịu các tác động tiêu cực nặng nề.

Giữa muôn trùng khó khăn, chính sách "ngoại giao xăng dầu" của Việt Nam đã tìm đến Nga.

Dù đạt được thỏa thuận về nguồn cung năng lượng, nhưng chính phía Điện Kremlin cũng xác nhận họ đang sắp xếp ưu tiên sao cho tình hình hiện tại phù hợp nhất với lợi ích của mình.

Và không chỉ mỗi Việt Nam "xếp hàng" chờ dầu của Nga. Thái Lan, Philippines, Indonesia và Sri Lanka cũng đang nằm trong danh sách khách hàng mới của Moscow.

Tại Bắc Kinh vào ngày 15/4, Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov tuyên bố Moscow sẵn sàng đẩy mạnh cung cấp năng lượng cho Trung Quốc.

Tham vọng tăng trưởng của Việt Nam đã gặp thách thức ngay từ đầu năm bởi cuộc khủng hoảng năng lượng này - vốn đe dọa đến sự ổn định vĩ mô, vốn là ưu tiên của chính quyền.

Dường như, công thức tăng trưởng cấp bách của ông Tô Lâm không tính đến các "bất ngờ đầy rẫy" trong cuộc sống như vậy, và rằng ông đã "đánh giá quá cao các nền tảng cơ bản của Việt Nam và đánh giá thấp các hạn chế" như nhận định trong một bài viết đăng trên Bloomberg đầu tháng 4.

Trong khi chính phủ Việt Nam quyết tâm cao độ, Ngân hàng Thế giới dự báo tăng trưởng của nước này năm 2026 là 6,3%. Con số này thấp hơn cả dự báo mà Ngân hàng Phát triển châu Á đưa ra là 7,2%.

"Ở góc độ lịch sử, chỉ Trung Quốc là nước tiệm cận tăng trưởng trung bình 10% trong thời gian dài. Cho dù có quốc gia đạt được mức tăng trưởng trên 10%, thành tích này thường chỉ ngắn hạn. Theo đánh giá của tôi, mục tiêu tăng trưởng hai con số bền vững trong thời gian dài là rất tham vọng và khó thực hiện," Tiến sĩ kinh tế Công Phạm, từ Đại học Deakin ở Úc, bình luận với BBC News Tiếng Việt hôm 10/4.

Thống kê từ Ngân hàng Thế giới chỉ ra các ví dụ tăng 8-10% trong thời gian dài có thể kể đến Nhật Bản (1955-1969), Hàn Quốc (giai đoạn 1965-1979 và 1983-1994), Singapore (1965-1979), Đài Loan (1960-1980) và Trung Quốc (1979-2012).

Ông Công lưu ý, để duy trì tăng trưởng cao dài hạn, Việt Nam không chỉ cần đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài mà còn phải cải cách thể chế, đồng thời tăng tốc công nghiệp hóa theo hướng tập trung vào các ngành công nghệ lõi, giá trị gia tăng cao, với chính sách công nghiệp có trọng tâm, hiệu quả và dài hạn.

"Thế nhưng, so với các nước thành công ở trên như Hàn Quốc và Trung Quốc ở vào cùng giai đoạn phát triển, Việt Nam kém hơn ở năng lực doanh nghiệp nội địa, trình độ công nghệ của các công ty nội địa, quy mô lực lượng lao động chất lượng cao, và khả năng của nhà nước về quản lý hiệu quả đầu tư công," Tiến sĩ Công nhấn mạnh.

Trong quý 1/2026, xuất khẩu của khu vực trong nước chỉ đạt 24,47 tỷ USD, giảm 16,6%, trong khi khu vực FDI đạt 98,46 tỷ USD, tăng 33,3% và chiếm tới 80,1% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Đánh đổi tăng trưởng bằng gì?

"Tôi cho rằng ổn định vĩ mô với tăng trưởng là chính sách hợp lý lúc này. Ưu tiên ổn định vĩ mô thì tăng trưởng của Việt Nam sẽ chậm hơn, nhưng bền vững và ít rủi ro hơn," Tiến sĩ Công Phạm bình luận.

Ông lưu ý rằng chỉ với một mức tăng trưởng ổn định 7% mỗi năm thì đã giúp nền kinh tế tăng gần gấp đôi GDP sau 10 năm.

"Việc theo đuổi tăng trưởng cao bằng mọi giá sẽ kéo theo nhưng hệ lụy như lạm phát khi tổng cầu tăng nhanh hơn năng lực cung, tăng trưởng tín dụng nhanh nhưng hiệu quả thấp gây nên tỉ lệ nợ xấu, đầu tư công dàn trải và kém hiệu quả," ông Công cảnh báo, nói thêm rằng khả năng của Việt Nam về quản lý hiệu quả đầu tư công và hoạch định chính sách công nghiệp còn yếu.

Tiến sĩ Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh (BCSI), chỉ ra tình trạng GDP tăng trưởng cao chỉ đang trên lý thuyết nhưng sức mua nội địa và đời sống người dân vẫn còn nhiều khó khăn, theo tạp chí Kinh tế Chứng khoán Việt Nam

"Không thể để mức tăng trưởng cứ cao vút trên tivi, mà ra đường anh em gặp nhau lại than 'đời sống khó, sức mua yếu thế nhỉ'."

Tiến sĩ Thành cho rằng nếu sức mua không cải thiện thì đó là sự tăng trưởng thiếu bền vững.

GDP quý 1/2026 đạt mức tăng trưởng 7,83%, mức cao nhất trong 16 năm qua, nhưng lạm phát tăng 3,51% so với cùng kỳ, mức cao nhất trong 5 năm qua.

ADB dự báo mức lạm phát của Việt Nam trong năm nay là 4%.

Một trong những động thái đầu tiên của chính phủ ông Lê Minh Hưng là giảm lãi suất.

Ngay chiều 9/4, tân Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã có cuộc họp với lãnh đạo 46 ngân hàng thương mại, và kết quả là các ngân hàng cam kết giảm lãi suất, đảo ngược đà tăng được thiết lập từ cuối năm 2025.

Hàng loạt ngân hàng đã thực hiện cam kết đó khi hạ lãi suất huy động.

Vẫn còn những lo ngại dòng vốn từ ngân hàng sẽ chảy vào các lĩnh vực đầu cơ như bất động sản, thay vì đi vào sản xuất, "là một trong những bài toán khó nhất mà Chính phủ Thủ tướng Lê Minh Hưng cần giải quyết", theo Tiến sĩ kinh tế Huỳnh Thanh Điền từ Đại học Nguyễn Tất Thành (TP HCM).

Năm ngoái, để tăng trưởng hơn 8%, tín dụng đã được đẩy tăng lên hơn 19%, điều mà các chuyên gia lo ngại là tạo áp lực cho hệ thống tài chính.

Khi đó, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng cũng cảnh báo rủi ro cho hệ thống tài chính nếu sử dụng chính sách tiền tệ cho mục đích tăng trưởng.

Tăng trưởng dựa vào tín dụng nóng đã từng gây ra các bất ổn vĩ mô trong quá khứ. Chẳng hạn, năm 2007, dưới thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, tín dụng tăng trưởng đến 53,8%, dẫn tới lạm phát lên đến 23% năm 2008 và nợ xấu tăng cao.

Bản thân ông Lê Minh Hưng thời còn làm lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước cũng đã xoay xở để xử lý vấn đề lãi suất, nợ xấu và các bất ổn trong hệ thống ngân hàng.

Các chuyên gia gợi ý duy trì tốc độ 7-8% mỗi năm và giữ lạm phát ổn định dưới 3% sẽ đảm bảo nền tảng bền vững, tránh gây ra tình trạng bất ổn tài chính, môi trường và xã hội.

Một nỗi lo khác, khiến các nhà quan sát chính trị ít lạc quan hơn, là khi họ đang đinh ninh rằng nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ chú trọng đặc biệt đến kinh tế tư nhân, thì ông Tô Lâm lại nhấn mạnh vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước.

Vai trò của Thủ tướng Hưng

Việc ông Lê Minh Hưng có thể hiện được khả năng "kỹ trị", như nhiều nhà quan sát kỳ vọng hay không, tùy thuộc nhiều vào việc nhà lãnh đạo cao nhất - Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm - có cho vị thủ tướng không gian để điều hành hay không.

Các nhà bình luận đánh giá ông Tô Lâm, với việc nhất thể hóa hai chức danh tổng bí thư và chủ tịch nước, đã trở thành nhà lãnh đạo quyền lực nhất kể từ thời kỳ Đổi mới.

Kể từ khi lên làm tổng bí thư, các chủ trương do ông Tô Lâm đưa ra đã nhanh chóng được Quốc hội thể chế hóa, và Chính phủ thực thi theo phương châm "chỉ bàn làm, không bàn lùi".

Giáo sư Zachary Abuza đánh giá với BBC rằng ông Lê Minh Hưng là người được ông Tô Lâm tin tưởng tuyệt đối để giao phó trọng trách chèo lái nền kinh tế, dựa trên sự tương đồng về quan điểm chính sách và cách thức ứng phó với các thách thức kinh tế.

Cũng có chung ý kiến với ông Abuza, nhưng Giáo sư Carl Thayer từ Đại học New South Wales (Úc) lưu ý rằng áp lực từ ông Tô Lâm lên bộ máy hành pháp sẽ luôn hiện hữu, với yêu cầu mọi việc phải được tiến hành nhanh hơn và quyết liệt hơn.

Mối quan hệ của Thủ tướng Hưng với ngành công an, vốn là xuất thân của ông Tô Lâm, cũng được cho là một thế mạnh để thủ tướng phối hợp với tổng bí thư, chủ tịch nước.

Phép thử thực sự cho "kỷ nguyên mới" của Việt Nam không nằm ở việc nền kinh tế tăng trưởng nhanh đến mức nào, mà ở việc nó xây dựng nên một xã hội ra sao trong quá trình đó, một bài phân tích trên diễn dàn kinh tế chính trị Đông Á (East Asia Forum) nhận định.