Ông Tô Lâm nhất thể hóa: Khác gì với ông Tập Cận Bình ở Trung Quốc?

Ảnh thiết kế: Ông Tập Cận Bình (trái) và ông Tô Lâm (phải)

Nguồn hình ảnh, BBC/ Andro Saini

Thời gian đọc: 9 phút

Việc ông Tô Lâm làm tổng bí thư và chủ tịch nước ngay từ đầu nhiệm kỳ được coi là một sự thay đổi ngoạn mục trong cấu trúc ở đỉnh cao quyền lực của Việt Nam và thường được so sánh với mô hình của Trung Quốc.

Một điểm khác quan trọng là trong khi tại Trung Quốc, về mặt lý thuyết thì ông Tập Cận Bình có thể làm tổng bí thư, chủ tịch nước trọn đời do đã bãi bỏ các giới hạn nhiệm kỳ, còn Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam hiện hành vẫn giới hạn nhiệm kỳ tổng bí thư là "không quá hai nhiệm kỳ liên tiếp", dù trên thực tế gần đây ông Nguyễn Phú Trọng đã bỏ qua quy định này để làm tổng bí thư ba nhiệm kỳ liền.

Trao đổi với BBC News Tiếng Việt hôm 7/4, Giáo sư danh dự Carl Thayer từ Đại học New South Wales, Úc nói rằng khác biệt thực sự là ở Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương và Đảng Cộng sản đóng vai trò mạnh hơn trong việc kiểm soát quyền lực của tổng bí thư so với Trung Quốc.

"Dù đã có việc hợp nhất chức danh chủ tịch nước, nhưng vẫn tồn tại 'trụ cột thứ năm' là thường trực Ban Bí thư. Vì vậy tôi dùng cụm từ Latin 'primus inter pares' – 'người đứng đầu trong số những người ngang hàng' đối với ông Tô Lâm, nhưng ông ấy vẫn phải chịu trách nhiệm trước Bộ Chính trị.

"Điều đó cho thấy vẫn tồn tại sự cân bằng quyền lực. Nhưng ông Tô Lâm đã chứng minh rằng ông ấy có thể làm việc tập thể và xây dựng liên minh, điều có thể thấy khi nhìn vào các thành viên Bộ Chính trị, bao gồm sự trở lại của những người ở miền Nam," nhà quan sát Việt Nam lâu năm đánh giá.

Giáo sư Thayer cho rằng ông Tô Lâm không quyền lực như ông Tập Cận Bình: "Tôi không muốn gọi ông Tập là nhà độc tài (dictator), mà là một nhà lãnh đạo chuyên quyền (autocrat) hay độc đoán (strongman). Ông Tô Lâm có thể trở thành một nhà lãnh đạo độc đoán, nhưng ông ấy chưa cho thấy điều đó, dù xuất thân từ Bộ Công an."

Theo chuyên gia này, ông Tô Lâm đã giành được sự ủng hộ nhờ những ý tưởng táo bạo và khả năng tập hợp lực lượng, được bầu tại Đại hội Đảng và sau đó tại Quốc hội – đó là một sự ủy nhiệm đáng kể.

Trong khi đó, Giáo sư Zachary Abuza từ Đại học Chiến tranh Hoa Kỳ, người từ lâu đã cho rằng ông Tô Lâm noi theo ông Tập Cận Bình khi muốn nhất thể hóa, nói với BBC rằng đây là điều hợp lý để người quyền lực nhất đất nước có thể đại diện Việt Nam trên trường quốc tế.

"Nhưng chúng ta cũng cần nhớ rằng ông Tô Lâm còn noi theo ông Tập Cận Bình ở những khía cạnh khác, chẳng hạn như việc 'vũ khí hóa' chiến dịch chống tham nhũng để loại bỏ các đối thủ và phe phái cạnh tranh, hay nỗ lực tập trung quyền lực, thay vì cho phép quyền tự trị địa phương nhiều hơn," ông nhấn mạnh.

Chủ tịch nước Việt Nam qua các thời kỳ

Nguồn hình ảnh, BBC/Arvin Supriyadi

Nhất thể hóa trong 'câu lạc bộ cộng sản'

Trong số năm quốc gia xã hội chủ nghĩa còn lại trên thế giới, Việt Nam là nước cuối cùng nhất thể hóa hai chức danh đứng đầu đảng và nhà nước.

Lào đã nhất thể hóa từ năm 1998 dưới thời Khamtai Siphandone, Cuba từ năm 1976 dưới thời Fidel Castro, Trung Quốc từ năm 1993 dưới thời Giang Trạch Dân.

Đối với Triều Tiên, quốc gia này đã nhất thể hóa từ năm 1972 dưới thời Kim Nhật Thành, song khi nhà lãnh đạo này qua đời vào năm 1994, ông được gọi là "chủ tịch vĩnh hằng", chức chủ tịch nước bị bỏ trống tới năm 1998 thì bãi bỏ.

Đến năm 2016, cháu nội của ông là nhà lãnh đạo Kim Jong-un đổi Ủy ban Quốc phòng thành Ủy ban Quốc vụ và nắm chức danh này cho tới nay. Với sự thay đổi này, chủ tịch Ủy ban Quốc vụ về thực chất tương đương với chủ tịch nước.

Ảnh thiết kế: từ trái qua: Chủ tịch Cuba và Bí thư Thứ nhất Đảng Cộng sản Cuba Miguel Díaz-Canel, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch nước Tô Lâm, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc và Chủ tịch nước Tập Cận Bình, Tổng Bí thư Đảng Lao động Triều Tiên, nhà lãnh đạo Kim Jong-un, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Chủ tịch nước Thongloun Sisoulith

Nguồn hình ảnh, BBC/ Andro Saini

Chụp lại hình ảnh, Từ trái qua: Chủ tịch Cuba và Bí thư Thứ nhất Đảng Cộng sản Cuba Miguel Díaz-Canel, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch nước Tô Lâm, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc và Chủ tịch nước Tập Cận Bình, Tổng Bí thư Đảng Lao động Triều Tiên, Chủ tịch Ủy ban Quốc vụ Kim Jong-un, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Chủ tịch nước Thongloun Sisoulith

Quyền lực của ông Tô Lâm tăng lên thế nào?

Trao đổi với BBC, các nhà quan sát cho rằng nếu xét về quyền lực tuyệt đối, thì việc nhất thể hóa thực sự không làm tăng nhiều quyền lực của ông Tô Lâm, bởi lẽ theo Hiến pháp Việt Nam, chủ tịch nước không phải là một vị trí quá quyền lực mà chủ yếu mang tính nghi lễ, là người đứng đầu nhà nước.

"Tuy nhiên, quyền lực của chủ tịch nước theo truyền thống đến từ việc đồng thời là thành viên Bộ Chính trị, cơ quan thực sự nắm quyền lực.

"Việc nhất thể hóa trao cho ông ấy vị trí chính thức là nguyên thủ quốc gia, nhà ngoại giao cao nhất và là người phát ngôn chính của đất nước trên trường quốc tế," Giáo sư Abuza nhấn mạnh.

Nếu so sánh với những người còn lại trong "Tứ Trụ", gồm Thủ tướng Lê Minh Hưng, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú, Giáo sư Thayer cho rằng ông Tô Lâm được tăng thêm tính chính danh và sự ủng hộ.

Theo chuyên gia này, ông Tô Lâm nhận được sự ủy nhiệm khi Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 14 đã bầu ông tiếp tục giữ cương vị tổng bí thư vào tháng 1/2026.

"Khi nhìn vào thành phần của Bộ Chính trị, họ đã đưa những người miền Nam trở lại, bao gồm cả con trai của ông Nguyễn Tấn Dũng, đó là một bước tiến đáng kể," Giáo sư Thayer nói.

"Vì vậy, ông Tô Lâm đang ở vị thế mạnh hơn, dù không phải như ông Lê Duẩn trước năm 1986, nhưng có lẽ quyền lực hơn bất kỳ tổng bí thư đảng nào kể từ đó," ông nhận định.

Giáo sư Abuza nhắc đến lý do Việt Nam áp dụng cơ chế lãnh đạo tập thể như hiện nay bắt đầu từ cải cách Đổi mới năm 1986, vì trước đó quyền lực từng tập trung rất lớn vào ông Lê Duẩn.

"Việc đó đã dẫn đất nước đến khủng hoảng kinh tế, cuộc tấn công và đóng quân tại Campuchia đầy tai hại. Hệ quả là Việt Nam rơi vào nghèo đói, bị cô lập về ngoại giao và sa lầy vào một cuộc chiến tranh không có lối thoát.

"Kể từ đó, các lãnh đạo Việt Nam quyết tâm duy trì một cơ chế lãnh đạo tập thể, và họ vẫn đang làm như vậy," chuyên gia từ Đại học Chiến tranh Hoa Kỳ phân tích.

Theo ông Abuza, dù có "Tứ Trụ" hay "Bộ Ngũ", thực tế vẫn tồn tại một cơ chế lãnh đạo tập thể tại Việt Nam, và Bộ Chính trị là một tập thể lãnh đạo mang tính đồng thuận, cùng làm việc với nhau.

Chân dung Bộ Chính trị khóa 14

  • Tô Lâm
    Tổng bí thư
  • Trần Thanh Mẫn
    Chủ tịch Quốc hội
  • Trần Cẩm Tú
    Thường trực Ban Bí thư
  • Lê Minh Hưng
    Trưởng Ban Tổ chức Trung ương
  • Lê Minh Trí
    Trưởng Ban Nội chính Trung ương
  • Nguyễn Thanh Nghị
    Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương
  • Trịnh Văn Quyết
    Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương
  • Trần Sỹ Thanh
    Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương
  • Phạm Gia Túc
    Chánh Văn phòng Trung ương Đảng
  • Đỗ Văn Chiến
    Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội
  • Nguyễn Trọng Nghĩa
    Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam
  • Phan Văn Giang
    Bộ trưởng Bộ Quốc phòng
  • Lương Tam Quang
    Bộ trưởng Bộ Công an
  • Lê Hoài Trung
    Bộ trưởng Bộ Ngoại giao
  • Trần Đức Thắng
    Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường
  • Nguyễn Duy Ngọc
    Bí thư Thành ủy Hà Nội
  • Trần Lưu Quang
    Bí thư Thành ủy TP HCM
  • Đoàn Minh Huấn
    Giám đốc Thường trực Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
  • Bùi Thị Minh Hoài
    Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Cả hai chuyên gia mà BBC phỏng vấn cùng cho rằng Ban Chấp hành Trung ương Đảng với 200 ủy viên ở Việt Nam là một cơ quan quyền lực hơn rất nhiều so với Ban Chấp hành Trung ương ở Trung Quốc, vốn phần lớn chỉ mang tính bù nhìn (rubber stamp) nhằm hợp thức hóa các quyết định của Bộ Chính trị.

Theo các nhà quan sát, Việt Nam vẫn được hưởng lợi từ việc có những tranh luận chính sách chất lượng trong giới lãnh đạo cấp cao.

Tham vọng kinh tế và những bất định

Với cương vị người đứng đầu Đảng và nhà nước, ông Tô Lâm đặt mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, trong khi tăng trưởng kinh tế bình quân trên 10% trong suốt nhiệm kỳ 5 năm tới, cao hơn mức dự báo của Ngân hàng Thế giới.

Mục tiêu này được đánh giá là tham vọng và khó đạt được, trong bối cảnh tình hình thế giới còn nhiều bất định.

Cuộc chiến tranh ở Trung Đông, trong đó Iran phong tỏa Eo biển Hormuz, đã dẫn đến các vấn đề về nguồn cung, dầu mỏ, dầu diesel, phân bón, urê, naphtha...

Chừng nào cuộc chiến này còn chưa được giải quyết, thì khả năng tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam, cũng như các quốc gia mà Việt Nam giao thương, sẽ tiếp tục bị ảnh hưởng.

Trong ba tháng đầu năm 2026, Việt Nam đã ghi nhận mức tăng trưởng GDP 7,83%, một con số không tệ nhưng thấp hơn cuối năm 2025.

Theo Giáo sư Abuza, vấn đề nằm ở chỗ Việt Nam dù làm tốt hơn tất cả các nước khác trong việc hưởng lợi từ chính sách "Trung Quốc+1", khi nhiều tập đoàn đa quốc gia dịch chuyển dây chuyền sản xuất ra ngoài Trung Quốc, song lại phụ thuộc rất lớn vào thương mại, bao gồm việc nhập nguyên liệu đầu vào.

Mỹ hiện là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu (gần 30% năm 2025), tương đương khoảng gần 30% GDP.

Cuộc chiến ở Iran khiến giá cả mọi thứ tăng vọt, từ năng lượng, các sản phẩm hóa dầu dùng làm tiền chất cho nhựa và cao su tổng hợp, nguyên liệu đầu vào cho dược phẩm, phân bón... Bên cạnh đó là giá nhiên liệu hàng không, nhiên liệu mà các tàu hàng vận chuyển hàng hóa xuất khẩu từ các cảng ở Việt Nam sang Mỹ, tất cả những điều này đang làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam.

Vì vậy, theo Giáo sư Abuza, không chỉ riêng Việt Nam mà bất kỳ quốc gia nào đặt ra mục tiêu tăng trưởng tham vọng đều rất khó để đạt được.

"Nếu tính đến kịch bản giá dầu lên tới 150 USD/thùng, GDP của Việt Nam có thể giảm khoảng 1%, nếu không muốn nói là hơn," ông nói với BBC.

Tuy nhiên, các chuyên gia cũng cho rằng, ngay cả khi không đạt được chỉ tiêu tăng trưởng trên 10% thì cũng không phải là điều quá tiêu cực, xét tới việc Việt Nam đã nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện cơ sở hạ tầng và nhiều yếu tố khác.